Xét nghiệm chức năng gan

  06/12/2016  20:35

Xét nghiệm chức năng gan bao gồm những xét nghiệm gì và ý nghĩa của xét nghiệm đó như thế nào là những vấn đề nhiều người băn khoăn cần được giải đáp. Bài viết dưới đây sẽ đưa ra một số thông tin cần thiết về xét nghiệm chức năng gan bạn đọc có thể theo dõi.

Xét nghiệm chỉ sốBilirubin

Bilirubin huyết thanh

Xét nghiệm máu chẩn đoán chức năng gan

Xét nghiệm máu chẩn đoán chức năng gan

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu. Bilirubin gồm hai thành phần là bilirubin gián tiếp (GT) và bilirubin trực tiếp (TT). Bilirubin GT còn được gọi là bilirubin tự do, tan trong mỡ, gắn kết với albumin huyết tương nên không được lọc qua cầu thận. Khi đến gan, bilirubin GT được liên hợp với acid glucuronic để trở thành bilirubin TT. Bilirubin này còn được gọi là bilirubin liên hợp, tan được trong nước và được bài tiết chủ động vào các tiểu quản mật.

Bình thường: bilirubin toàn phần (TP): 0,8–1,2 mg/dL (5-17 mmol/L), bilirubin GT 0,6 – 0,8 mg/dL, bilirubin TT 0,2 – 0,4 mg/dL (chiếm 30% bilirubin TP). Vàng da chỉ biểu hiện trên lâm sàng khi bilirubin TP tăng > 2,5 mg/dL.

Bilirubin niệu

Chỉ hiện diện ở dạng bilirubin TT. Khi có bilirubin niệu, chắc chắn có vấn đề về gan mật. Bilirubin niệu được phát hiện nhanh chóng nhờ que nhúng. Kết quả có thể dương tính trước khi có vàng da rõ trên lâm sàng nhưng đến khi bệnh nhân hết vàng da, bilirubin niệu trở về âm tính trước khi giảm bilirubin huyết. Phenothiazine có thể làm cho kết quả bị dương tính giả khi sử dụng viên thử Ictotest.

Xét nghiệm chỉ số Urobilinogen 

Urobilinogen là chất chuyển hóa của bilirubin tại ruột, được tái hấp thu vào máu theo chu trình ruột – gan và sau đó cũng được bài tiết qua nước tiểu. Trong trường hợp tắc mật hoàn toàn, sẽ không có urobilinogen trong nước tiểu. Urobilinogen tăng trong nước tiểu gặp trong trường hợp tán huyết (tăng sản xuất), xuất huyết tiêu hóa hoặc bệnh lý gan. Bình thường urobilinogen 0,2 – 1,2 đơn vị (phương pháp Watson).

Phosphatase kiềm (alkalin phosphatase, ALP)

Các xét nghiệm chẩn đoán tình trạng sức khỏe gan

Các xét nghiệm chẩn đoán tình trạng sức khỏe gan

ALP là enzym thủy phân các ester phosphat trong môi trường kiềm (pH = 9). Nguồn gốc chủ yếu của ALP là ở gan và xương. Ở ruột, thận và nhau thai thì ít hơn. Bình thường ALP 25 – 85 U/L hoặc 1,4 – 4,5 đơn vị Bodansky hoặc 1,5 – 4,5 đơn vị King Armstrong.

Bodansky/dL g-glutamyl transferase , g-glutamyl transpeptidase (GGT, g-GT)

GGT xúc tác sự chuyển nhóm g-glutamyl từ những peptid như glutathion đến những acid amin khác và giữ vai trò vận chuyển acid amin. Mặc dù hiện diện ở nhiều cơ quan khác nhưng GGT được tìm thấy ở nồng độ cao trong tế bào biểu mô trụ của ống mật.

Amoniac máu (NH3)

NH3 được sản xuất từ chuyển hóa bình thường của protein trong cơ thể và do vi khuẩn sống ở đại tràng. Gan giữ nhiệm vụ khử độc NH3 bằng cách chuyển thành urê để thải qua thận. Cơ vân cũng giữ vai trò khử độc NH3 bằng cách gắn với acid glutamic để tạo thành glutamin. Những bệnh nhân bệnh gan nặng thường bị teo cơ do phá hủy cũng góp phần làm cho NH3 tăng cao. NH3 có thể tăng ở bệnh nhân bị tăng áp lực tĩnh mạch cửa nặng hoặc có shunt mạch máu cửa ở gan.

Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử tế bào gan

Khám sức khỏe gan mật định kỳ thường xuyên là việc cần thiết

Khám sức khỏe gan mật định kỳ thường xuyên là việc cần thiết

Transaminase hay aminotransferase là những enzym nội bào, chuyển nhóm g-amin (-NH2) của aspartat và alanin đến nhóm g-keto của ketoglutarat để tạo thành acid oxaloacetic và pyruvic. Sự tăng của các enzym này phản ánh tình trạng tổn thương tế bào gan.

AST (Aspartate aminotransferase) hay SGOT (Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase) 

Hiện diện trong bào tương và ty thể của tế bào. AST hiện diện ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan. Ngoài ra, AST còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu và hồng cầu. Bình thường AST < 40 UI/L.

ALT (Alanine aminotransferase) hay SGPT (Serum Glutamic Pyruvic Transaminase)

Hiện diện chủ yếu ở bào tương của tế bào gan cho nên sự tăng ALT nhạy và đặc hiệu hơn AST trong các bệnh gan. Bình thường ALT < 40 UI/L.

Ngoài những xét nghiệm chức năng gan trên đây, trong quá trình thăm khám bác sĩ  còn có thể chỉ định một số kiểm tra cận lâm sàng cần thiết để chẩn đoán chính xác tình trạng của bệnh nhân.

Nếu còn băn khoăn cần được giải đáp kĩ lưỡng hơn bạn đọc có thể tham khảo ý kiến của các chuyên gia hoặc đặt hẹn thăm khám qua hệ thống tổng đài 1900558896/ 0904970909 để được tư vấn hỗ trợ.

Đặt khám để nhận chính sách tốt nhất

Lý do bạn nên chọn Bệnh viện Thu Cúc

Bệnh viện khách sạn chuẩn quốc tế
Khám, điều trị với Giáo sư Gan mật hàng đầu
Cơ sở vật chất tiện nghi, thiết bị y tế hiện đại
Áp dụng Bảo hiểm y tế và các bảo hiểm khác
Chăm sóc khách hàng tận tình chu đáo
Chi phí thăm khám hợp lý    
Tư vấn bác sĩ: 1900 55 88 96

Gửi bình luận của bạn

Địa chỉ thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.